Trang chính
Trang chủ    ¤   Gửi bài    ¤   Lịch học tập    ¤   Kết quả điểm    ¤   Tìm kiếm    ¤   Sơ đồ site
Tin tức » Nghiên cứu - Trao đổi Thứ tư, 13-12-2017

motor Teco

Nhà phân phối motor Teco ở Việt Nam

dong co Siemens

chuyen cung cap dong co Siemens

hạt giống sen mini

chuyên cung cấp hạt giống sen mini Nhật Bản

hoa lan hồ điệp

chuyên cung cấp hoa lan hồ điệp ở TPHCM

shop quần áo đá banh

LONI sport là shop quần áo đá banh ở TPHCM

hoa tuoi

Shop hoa tuoi cung cap hoa tuoi o tphcm

Đặt quần áo đá banh

Chuyên đặt quần áo đá banh ở TPHCM

Giày bóng đá

Cung cấp giày bóng đá giá rẻ ở TPHCM

Hạt giống hoa

Cung cấp hạt giống hoa ở TPHCM - giao hạt giống hoa toàn quốc

kho lạnh

Thiết kế và thi công kho lạnh tiêu chuẩn châu Âu

Màn nhựa PVC

Phân phối màn nhựa PVC Extruflex của Pháp

CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở VĨNH LONG – KẾT QUẢ VÀ NHỮNG HẠN CHẾ
16.02.2016 09:41

Cách đây 7 năm, tại hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết về “Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước”. Thực hiện Nghị quyết này, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính. Qua 7 năm triển khai thực hiện, việc đẩy mạnh cải cách hành chính đã đem lại kết quả đáng phấn khởi. Hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền các cấp từng bước nâng cao đã góp phần to lớn vào việc phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng của tỉnh nhà.
I. Kết quả đạt được: thể hiện trên các mặt sau đây:
1. Kết quả trong cải cách thể chế và thủ tục hành chính
Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 539 văn bản quy phạm pháp luật ( 88 chỉ thị và 441 quyết định), định ra một số thể chế đặc thù ở địa phương, phù hợp với qui định của Trung ương, tạo cơ sở pháp lý phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Kết quả là năm 2010 có 20.752 cơ sở kinh doanh dịch vụ thương mại, năm 2013 có 47.000 cơ sở.
Kết quả tổng rà soát thủ tục hành chính (TTHC) đối với các sở, ngành, huyện, thị trong tỉnh giai đoạn từ 1976 - 6/2007 được 2.741 văn bản, trong đó có 82 văn bản phải được sửa đổi, bổ sung và 2.659 văn bản đã hết hiệu lực đã được thay thế bằng văn bản mới.
Hiện tại, bộ TTHC của tỉnh có 1.846 TTHC, trong đó các sở, ngành tỉnh là 1.409, cấp huyện: 225 và cấp xã là 212).
Hàng năm, tỉnh đều rà soát văn bản QPPL và phổ biến rộng rãi (thông qua Công báo tỉnh, Cổng thông tin điện tử và các phương tiện thông tin đại chúng ...).
Đối với đa số người dân ở các địa phương trong tỉnh, trước đây để làm được một giấy khai sinh cho trẻ sơ sinh, giấy khai tử cho người quá cố, hay giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai, bà con phải đi lại nhiều nơi, nhiều lần nên mất rất nhiều thời gian. Nhưng kể từ khi triển khai thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành thì người dân không còn phải mất nhiều thời gian mỗi khi đến Ủy ban nhân dân xã làm hồ sơ giấy tờ.
Lịch tiếp dân, nội quy tiếp dân, các quy định về những việc cán bộ, công chức không được làm, cùng với các quy chế về thực hiện dân chủ nơi cơ quan được công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân đến làm hồ sơ, giấy tờ. Các kế hoạch về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch phân bố các công trình sử dụng đất chi tiết cũng được công khai niêm yết để mọi người dân được biết, được bàn, được kiểm tra.
2. Kết quả trong cải cách thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông:
Để tạo sự tiện ích cho người dân, đến nay cơ chế “một cửa” đã được triển khai ở tất cả các sở, ngành tỉnh, 8/8 huyện, thị xã, thành phố và 109/109 xã, phường, thị trấn. Đội ngũ cán bộ đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính của tỉnh đã được kiện toàn. Đến nay, cán bộ đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC của tỉnh đã được kiện toàn với 179 người (các sở, ban, ngành tỉnh: 43 người; cấp huyện, cấp xã: 136 người). Nhiều địa phương còn áp dụng tiêu chuẩn ISO vào quy trình giải quyết thủ tục hành chính cho dân như ở phường 1, thành phố Vĩnh Long. Các loại thủ tục hành chính, trình tự giải quyết và thời gian giải quyết cũng như các khoản phí, lệ phí phải nộp, các khoản phí, lệ phí được miễn theo quy định đều được công khai niêm yết tại phòng tiếp dân.
Số cán bộ, công chức thông thạo về chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất và năng lực đã được phường bố trí làm việc tại bộ phận tiếp nhận và giao trả hồ sơ cho dân. Trong quá trình thực thi công vụ, họ không gây phiền hà, nhũng nhiễu người dân.
Nhiều địa phương, đơn vị còn áp dụng mô hình “Một cửa liên thông” để giải quyết hồ sơ, giấy tờ cho dân, như Sở Tư Pháp tỉnh Vĩnh Long. Đây là một trong những đơn vị điểm thực hiện mô hình này. Tổ tiếp nhận và giao trả kết quả hồ sơ được thành lập hoạt động có hiệu quả. Cụ thể, như trước đây, muốn làm thủ tục đăng ký hộ tịch, công chứng, chứng thực hay làm lý lịch tư pháp, người dân phải liên hệ với nhiều cơ quan nên phải đi lại nhiều lần. Còn hiện nay, khi làm các loại thủ tục này, bà con chỉ việc đến đây hai lần. Một lần đến nộp hồ sơ và một lần đến nhận lại kết quả. Điều đáng ghi nhận là so với quy định pháp luật hiện hành thì thời gian giải quyết các thủ tục hành chính đã được rút ngắn đáng kể. Việc thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế “Một cửa liên thông” không chỉ tạo sự chuyển biến cơ bản trong mối quan hệ giữa cơ quan tư pháp với công dân mà còn nâng cao được hiệu quả hoạt động tư pháp, giúp cho việc chỉ đạo điều hành của lãnh đạo đơn vị sâu sát hơn. Trong quá trình hoạt động, đơn vị này chưa nhận được sự phản ánh nào của dân về đạo đức tác phong, thái độ phục vụ, sự chậm trễ về thời gian, cũng như không có sai sót trong giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức. Đây cũng là một trong rất ít đơn vị được Văn phòng Chính phủ đánh giá thực hiện tốt công tác kiểm soát, công bố, niêm yết công khai thủ tục hành chính kịp thời, đúng quy định.
Qua 7 năm thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính, các cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh Vĩnh Long đã đơn giản hóa được hơn 80% các quy định hiện hành. Cơ chế “Một cửa - Một cửa liên thông” được duy trì và mở rộng ở cả 3 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, phường. Thực hiện cơ chế này không chỉ nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân mà còn nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền các cấp.
Có thể nêu ra một số ví dụ điển hình như sau:
- Lĩnh vực đăng ký kinh doanh: 1-2 ngày/1 hồ sơ (rút ngắn 13 ngày)
- Lĩnh vực xây dựng: 15 ngày/hồ sơ (rút ngắn 15 ngày)
- Lĩnh vực đất đai: thủ tục trích lục QSDĐ: 7 ngày/hồ sơ (rút ngắn 10 ngày), hồ sơ chứng nhận quyền sử dụng đất: 30-45 ngày (trước đây không quy định).
- Sở Tư pháp liên thông với Công an tỉnh, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp ....
- Sở Xây dựng liên thông Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên môi trường, về lĩnh vực xây dựng cơ bản ....
- Ở cấp huyện, UBND thành phố Vĩnh Long và huyện Trà Ôn đã ban hành quy trình thực hiện cơ chế một cửa liên thông giữa các phòng để giải quyết các TTHC trên lĩnh vực đất đai và chính sách người có công tại một số xã, phường trong huyện, thành phố... đạt trên 95% hồ sơ trả đúng hẹn.
- Về dịch vụ công trực tuyến:
Một số dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn tỉnh đạt ở mức độ 2 và 3, cụ thể như sau:
TT Tên của nhóm dịch vụ Mức của dịch vụ
2012 2013
1 Đăng ký kinh doanh 2 3
2 Cấp giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện 2 3
3 Cấp giấy phép xây dựng 3 3
4 Cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng 2 2
5 Cấp giấy phép đầu tư 2 3
6 Cấp giấy đăng ký hành nghề y, dược 2 2
7 Lao động việc làm 2 2
8 Cấp, đổi giấy phép lái xe 3 3
9 Giải quyết khiếu nại, tố cáo 2 2
10 Đăng ký tạm trú, tạm vắng 2 2
11 Cấp giấy phép lĩnh vực báo chí xuất bản 2 2

3. Kết quả trong cải cách bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương:
Sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực hiện Nghị định số 13/2008/NĐ-CP và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP của Chính phủ, từ năm 2008 đến nay, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được sắp xếp lại từ 22 cơ quan còn 17 cơ quan; cơ quan chuyên môn cấp huyện được sắp xếp lại từ 14 phòng còn 12 phòng, ban, riêng các huyện Tam Bình, Trà Ôn, Bình Minh có 13 phòng (thêm Phòng Dân tộc).
Trong việc cải cách bộ máy, các cấp các ngành trong tỉnh đều hướng vào mục tiêu trọng tâm là xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng đơn vị trên cơ sở phân cấp rõ ràng, tăng cường tính chuyên nghiệp, giải quyết nhanh công việc của cá nhân và tổ chức. Đa số các cơ quan hành chính đều thực hiện chức năng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, khắc phục dần tình trạng chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ.
4. Kết quả trong cải cách công tác qui hoạch, đào tạo, tuyển dụng, bố trí công tác:
Hàng năm, đều tổ chức thi tuyển, xét tuyển công chức, viên chức. Đặc biệt, năm 2012, tỉnh tổ chức thi tuyển công chức theo hình thức thi cạnh tranh, năm 2013 tổ chức thi tuyển bằng phần mềm máy tính.
Kết quả năm 2013: có 626/958 thí sinh có mặt dự thi (cấp tỉnh, huyện 271/502 thí sinh; cấp xã 355/456 thí sinh).
Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Tỉnh ủy Vĩnh Long phát động đã góp phần làm chuyển biến lề lối làm việc của các cơ quan quản lý nhà nước. Tình trạng cán bộ, công chức đi trễ về sớm, chơi game trong giờ làm việc, uống rượu bia trong giờ làm việc và giờ nghỉ trưa đã được hạn chế. Phần lớn cán bộ, công chức đều thực hiện đúng các chuẩn mực đạo đức do các cơ quan, đơn vị quy định. Phong cách phục vụ người dân của đội ngũ cán bộ, công chức có sự tiến bộ rõ rệt không chỉ làm giảm bớt phiền hà cho dân, hạn chế được tình trạng sách nhiễu dân mà còn cải tiến và nâng cao hiệu quả giải quyết công việc của chính quyền các cấp.
Để phục vụ người dân ngày càng tốt hơn, hàng năm tỉnh Vĩnh Long đã cử trên 5.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức dự các lớp đào tạo, tập huấn bồi dưỡng cả về lý luận chính trị lẫn nghiệp vụ chuyên môn trong ngoài nước. Ngoài việc đào tạo chuẩn hóa theo chức vụ, chức danh, tỉnh còn quan tâm đào tạo kỹ năng, đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ở tất cả các ngành, các lĩnh vực. Nhờ vậy mà trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh đã được nâng lên đáng kể. Theo thống kê của Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Long, đến nay, tỷ lệ cán bộ công chức cấp tỉnh và cấp huyện đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ chiếm trên 93%; còn tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã phường đạt chuẩn cũng chiếm trên 85%.
Ngoài việc đào tạo, bồi dưỡng, trong 5 năm qua tỉnh Vĩnh Long còn tuyển dụng trên 500 công chức để bổ sung cho các cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện và trên 10.000 viên chức bổ sung cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã được trẻ hóa, trình độ mọi mặt, nhất là trình độ nghiệp vụ chuyên môn được nâng cao. Đây là điều kiện thuận lợi để tỉnh tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu quả hơn.
Riêng đối với cấp xã, phường, thị trấn, để đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền, Tỉnh đã ban hành chính sách trợ cấp thôi việc. Đây là điều kiện thuận lợi giúp cho cấp xã, phường sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng tinh gọn, một người đảm trách nhiều việc nhưng vẫn bảo đảm tiêu chuẩn theo chức vụ, chức danh quy định. Nhờ vậy mà phần lớn cán bộ, công chức đã giải quyết có hiệu quả các vấn đề liên quan đến cuộc sống của người dân.
Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta đã thật sự đi vào cuộc sống của các tầng lớp nhân dân. Các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh hàng năm đều hoàn thành. Trong đó có sự đóng góp không nhỏ của việc đẩy mạnh cải cách hành chính. Trong quá trình cải cách hành chính, chính quyền các cấp luôn tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Nhờ vậy mà tỉnh Vĩnh Long đã huy động được nguồn lực to lớn trong dân cùng chung tay góp sức xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, nhiều nhất là ở khu vực nông thôn.
Đẩy mạnh cải cách hành chính là một trong các nội dung quan trọng trong nhiệm vụ chính trị của từng ngành, từng địa phương. Bởi chỉ có đẩy mạnh cải cách hành chính thì mới nâng cao được hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền các cấp. Vì vậy, tiếp tục nâng cao nhận thức sao cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức có ý thức học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng công tác, nâng cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân, tích cực thực thi công vụ, là nhiệm vụ quan trọng của các địa phương, đơn vị của tỉnh Vĩnh Long.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kinh tế-xã hội của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỉnh Vĩnh Long đã và đang tập trung đẩy mạnh cải cách thể chế, thủ tục hành chính và tổ chức bộ máy Nhà nước, phấn đấu xây dựng một nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp và hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, xây dựng bộ máy chính quyền các cấp trong sạch vững mạnh. Trước hết là tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất và năng lực, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.
5. Kết quả trong cải cách tài chính công
Căn cứ Luật ngân sách, hướng dẫn của Bộ Tài chính và điều kiện thực tế của địa phương, tỉnh đã thực hiện phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi đối với từng cấp tỉnh, huyện, xã. Trong đó, giao lại cho ngân sách cấp huyện đảm nhiệm chi hoạt động sự nghiệp giáo dục (từ trung học cơ sở trở xuống), văn hóa, thể thao, nông nghiệp, giao thông nông thôn,...
Thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/5/2005 về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý trong cơ quan HCNN. Đến nay, toàn tỉnh có 47/47 cơ quan cấp tỉnh, 8/8 huyện, thị xã, thành phố (kể cả các cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể) thực hiện chế độ khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính.
Thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP, 114/114 đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập. Trong đó:
+ 09 đơn vị tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên;
+ 37 đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên;
+ Số còn lại do NSNN đảm bảo toàn bộ;
6. Kết quả trong đổi mới phương thức làm việc và hiện đại hóa hành chính
Tích cực ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Cụ thể như:
+ Tất cả các cơ quan hành chính cấp tỉnh và 8 huyện, thành phố đều có mạng LAN và nối với mạng diện rộng của tỉnh;
+ Một số ngành, huyện đã mở rộng mạng nội bộ đến cấp xã như: ngành tài chính, thành phố Vĩnh Long,....
Cải tiến lề lối làm việc như thực hiện quản lý hồ sơ, soạn thảo, góp ý, sửa chữa văn bản, xây dựng lịch làm việc, mời họp,... thông qua hệ thống mạng LAN, cổng thông tin, trang thông tin, hộp thư điện tử,.
Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008. Đến nay có 29 cơ quan hành chính cấp tỉnh, 08 cơ quan cấp huyện và 109 cấp xã áp dụng TCVN ISO 9001:2008; trong đó, được cấp giấy chứng nhận là 82 đơn vị (cơ quan hành chính cấp tỉnh 28/29 đơn vị, cấp huyện là 6/8 đơn vị, cấp xã là 48/109 đơn vị).
Trụ sở của cơ quan hành chính ở các cấp được sửa chữa hoặc xây dựng mới đáp ứng yêu cầu.
7. Kết quả trong giải quyết mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhân dân
UBND tỉnh đã triển khai thực hiện Quy chế Văn hóa công sở tại cơ quan hành chính nhà nước (Quyết định số 23/2007/QĐ-UBND, ngày 28/11/2007 của UBND tỉnh); mở rộng lấy ý kiến nhân dân qua cổng thông tin điện tử của tỉnh; mở đường dây nóng, công khai minh bạch các thủ tục hành chính, đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong tiếp cận và thực hiện các TTHC; thực hiện tiếp công dân theo lịch hàng tuần, tháng đúng quy định.
II. Những mặt còn hạn chế:
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác cải cách hành chính nhà nước ở tỉnh Vĩnh Long vẫn còn tồn tại những hạn chế sau đây:
- Một là, công tác cải cách thể chế chưa thực sự quyết liệt, còn gây phiền hà cho doanh nghiệp và người dân trong quan hệ với cơ quan nhà nước.
- Hai là, việc giải quyết công việc theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở một số cơ quan, địa phương chưa đảm bảo đúng quy trình. Trong đó:
+ Một số TTHC vẫn còn rườm rà, phức tạp, chưa thực sự tinh gọn như: thủ tục chuyển nhượng bất động sản, thủ tục khám bệnh bảo hiểm y tế, ...
+ Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong giải quyết công việc liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp chưa chặt chẽ.
+ Thiếu sự kiểm tra và chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo.
- Ba là, một số chức năng, nhiệm vụ trùng lắp, chồng chéo chưa được giải quyết triệt để, như:
+ Chức năng quản lý công sản là công sở giữa Sở Tài chính và Sở Xây dựng; chức năng quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm giữa các ngành y tế, công thương, nông nghiệp; chức năng quản lý làng nghề giữa ngành nông nghiệp và ngành công thương,...
+ Một số cơ quan, đơn vị không thực hiện hết thẩm quyền được giao và đùn đẩy trách nhiệm cho cơ quan khác hoặc chuyển lên cấp trên;
+ Các tổ chức ban chỉ đạo, hội đồng làm nhiệm vụ tư vấn đang phát triển trở lại và làm tăng hội họp, tăng thêm nhiều văn bản hành chính đã phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý HCNN.
- Bốn là, chưa thực hiện đánh giá kết quả thực sự của cán bộ, công chức, viên chức trong từng tháng và hàng năm (theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008)
- Năm là, chất lượng đội ngũ CBCC tuy có nâng lên nhưng chưa đồng đều; tình trạng thờ ơ, quan liêu, nhũng nhiễu vẫn còn xảy ra.
- Sáu là, cơ sở vật chất, trang thiết bị ứng dụng CNTT, các trang thiết bị khác từ tỉnh đến cơ sở còn nhiều thiếu thốn; ứng dụng CNTT vào CCHC còn hạn chế, đường đi của "một cửa liên thông điện tử" vẫn còn thủ công.
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do:
- Công tác tuyên truyền chưa sâu.
- Tâm lý “an toàn” của người dân.
- Do cơ chế chính sách của nhà nước thay đổi liên tục, thiếu đồng bộ.
- Chưa coi công tác CCHC là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên.
- Công tác đôn đốc, kiểm tra chưa được quan tâm đúng mức.


III. Phương hướng và giải pháp cần thiết:
1. Phương hướng:
Để công tác cải cách hành chính được tiếp tục triển khai phù hợp với kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa ở tỉnh Vĩnh Long cần thực hiện tốt các nội dung sau:
- Tiếp tục triển khai Chương trình hành động của Chính phủ, của Tỉnh ủy và của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa X) về đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.
- Tiếp tục rà soát, đề xuất đơn giản hóa thủ tục hành chính.
- Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế.
- Tuyển dụng CBCC đúng vị trí chuyên môn, đề cao tinh thần trách nhiệm người đứng đầu.
- Tăng cường về chất công tác thi tuyển công chức, viên chức, tiến tới thi tuyển các chức danh quản lý phó trưởng phòng, trưởng phòng đến phó giám đốc, giám đốc sở, … một cách công khai, minh bạch.
- Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 9001:2008.
- Nâng cao hiệu quả cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Xây dựng vị trí việc làm và cơ cấu công chức, viên chức ở tất cả các ngành, các cấp.
- Tăng cường công tác tuyên truyền cải cách hành chính.
- Đẩy mạnh công tác kiểm tra việc thực hiện công tác cải cách hành chính ở các ngành, các cấp theo kế hoạch của tỉnh.
2. Giải pháp cần thiết:
- Thủ trưởng các Sở, ngành tỉnh và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã phải tập trung chỉ đạo và triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính đã đề ra, đưa cải cách hành chính thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của ngành, địa phương; đồng thời, phải gắn chặt với việc thực hiện đổi mới hệ thống chính trị và cải cách tư pháp.
- Nâng cao năng lực nghiên cứu, tham mưu của các cơ quan chức năng, của cán bộ, công chức chuyên trách cải cách hành chính trong việc giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thủ trưởng Sở, ngành tỉnh và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính.
- Bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các chương trình, dự án, đề án cải cách hành chính đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, kịp thời phát hiện, phổ biến, nhân rộng các điển hình tiên tiến, biểu dương những tập thể, cá nhân làm tốt và phê phán, chỉ rõ những nơi có tiêu cực, thái độ, tác phong làm việc quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu,... để tất cả cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và nhân dân nhận thức đúng về cải cách hành chính và thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.
- Đưa nội dung cải cách hành chính vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Trường Chính trị Phạm Hùng và Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện.
- Áp dụng Bộ chỉ số đánh giá cải cách hành chính theo hướng dẫn của Trung ương.
Tóm lại, CCHC trong thời gian qua mặc dù đã đạt được những thành công đáng ghi nhận, tuy nhiên hoạt động của Nhà nước và của nền hành chính quốc gia vẫn còn nhiều điểm bất cập. Nếu duy trì quá lâu tình trạng này sẽ tạo ra tác động kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trước yêu cầu phát triển sâu hơn nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, yêu cầu hội nhập mạnh mẽ và toàn diện, công cuộc CCHC đang đứng trước những thách thức vô cùng to lớn. Để vượt qua những thách thức này, CCHC trong giai đoạn mới cần phải có những thay đổi hết sức sâu sắc cả về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, của bản thân hệ thống thể chế hành chính, của cơ cấu hệ thống tổ chức hành chính và đội ngũ công chức hành chính... Việc thực hiện những phương hướng mới trong CCHC như đã phân tích ở trên là hết sức cần thiết. Với những thành công đã đạt được, với quyết tâm to lớn của cả hệ thống chính trị, chắc chắn CCHC trong giai đoạn tới sẽ thu được những thành công to lớn, góp phần quan trọng thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh, mạnh, vững chắc nền kinh tế - xã hội của nước ta.

tranminhto



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file


Những bản tin khác:



Lên đầu trang
 Lịch học tập 
 Đăng nhập/Đăng ký 
Bí danh
Mật khẩu
Ghi nhớ
 Online 
 Khách: 001
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 001
 Hits 001905556
IP của bạn: 54.227.126.69
Trang chủ    ¤   Gửi bài    ¤   Lịch học tập    ¤   Kết quả điểm    ¤   Tìm kiếm    ¤   Sơ đồ site

   - Trang thông tin điện tử Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long xây dựng trên cơ sở hệ thống NukeViet 2.0
   - Người chịu trách nhiệm: Ông Đinh Văn Tiền - Hiệu trưởng Trường
   - Địa chỉ : 241 Đinh Tiên Hoàng - Phường 8 - Thành phố Vĩnh Long - Vĩnh Long
   - Điện thoại: 0703822315.