Trường Chính Trị Phạm Hùng http://tctph.gov.vn

Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa - xã hội ở Vĩnh Long
16.02.2016


MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI Ở VĨNH LONG TỪ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ LẦN THỨ IX

Lê Thị Hồng Nhiên

Có thể nói, vấn đề mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa - xã hội là một trong những vấn đề cơ bản mang tính thời đại của đời sống xã hội; đây không chỉ là mục tiêu mà còn là khác vọng toàn nhân loại, nếu không thực hiện và giải quyết tốt vấn đề này thì kinh tế - xã hội sẽ phát triển không bền vững. Bởi trên thực tế, giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa - xã hội không những độc lập, tách rời nhau mà ngược lại có mối quan hệ “biện chứng” với nhau. Do vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc nhận thức và làm rõ mối quan giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa - xã hội để từ đó có những chính sách, giải pháp kịp thời, hợp lý giải quyết một cách hoài hòa mối quan hệ này nhằm từng bước thúc đẩy kinh tế, văn hóa - xã hội phát triển ổn định và bền vững là một yêu cầu hết sức cần thiết đặt ra ở Việt Nam cũng như ở tỉnh Vĩnh Long.
Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền Vĩnh Long cũng đã rất quan tâm đến việc thực hiện mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa - xã hội. Nhìn chung, việc thực hiện mối quan hệ này đã đạt được nhiều thành tựu nhất định. Đăc biệt, từ kết quả đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ IX (2010 - 2015), có thể khái quát những thành tựu mà Vĩnh Long đạt được như sau:
- Về phát triển kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 2010 - 2015 là 6,97%; thu nhập bình quân đầu người năm 2015 tính theo giá hiện hành là 36,690 triệu đồng (tương đương1.826 USD), tăng 1,7 lần so với năm 2010; giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản từng bước đi vào ổn định, mức tăng bình quân của toàn ngành năm 2010 - 2015 là 2,74%; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mức tăng bình quân hàng năm giai đoạn từ 2010 - 2015 là 11,61%; thương mại, dịch vụ giá trị gia tăng bình quân hàng năm đạt 8,03%; tính đến thời điểm cuối năm 2015, Vĩnh Long có 3.180 doanh nghiệp, đặc biệt, các doanh nghiệp ở Vĩnh Long đã từng bước đầu tư tiếp cận khoa học, công nghê và thị trường thế giới để trao đổi trong sản xuất và kinh doanh.
- Phát triển kinh tế với lao động, việc làm
Về quản lý lao động, việc làm: năm 2010 Vĩnh Long đã tạo việc làm mới cho 27.050 người và năm 2015 là 27.000 người; từ 2010 - 2015 số lao động được giải quyết việc làm trong toàn tỉnh là trên 136.241 người. Về quản lý đào tạo nghề: tính đến cuối 2015, Vĩnh Long đã tập trung đào tạo nghề cho người lao động khoảng 137.669 người; tỷ lệ người lao động có chuyên môn kỹ thuật ở Vĩnh Long ngày càng tăng, năm 2010 là 35,96% và năm 2015 là 55%.
- Phát triển kinh tế với nâng cao mức sống và thu nhập cho người dân
Nhìn chung, sự phát triển kinh tế của Vĩnh Long trong những năm vừa qua đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện, nâng cao thu nhập và mức sống cho người dân trong tỉnh. Cụ thể, năm 2010 thu nhập bình quân đầu người đạt 20.876 triệu đồng (1.071 USD); năm 2015 là 39.690 triệu đồng (1.862 USD).
- phát triển kinh tế với nâng cao phúc lợi xã hội
Về giáo dục - đào tạo: tính đến thời điểm cuối năm 2015, Vĩnh Long có 93% dân số biết chữ; toàn tỉnh có 32,03% trường đạt chuẩn quốc gia; 98% phòng học kiên cố và 99,8% giáo viên đạt chuẩn. Đặc biệt, vĩnh Long đã hoàn thành xong chương trình phổ cập bậc tiểu học và trung học cơ sở. Về y tế: trong thời gian qua, mạng lưới khám chữa bệnh tiếp tục được củng cố và phát triển theo hướng chuyên khoa hóa và y tế phổ cập tuyến cơ sở. Nhờ vậy mà công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân được cải thiện tích cực, đặc biệt là đối với trẻ em. Hiện nay, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi là 14%, trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đủ liều đạt 95%. Về công tác đền ơn, đáp nghĩa: từ năm 2010 - 2015 toàn tỉnh đã vận động được 23,5 tỷ đồng quỷ đền ơn đáp nghĩa, xây dựng trên 2.609 căn nhà tình nghĩa.
- phát triển kinh tế với xóa đói, giảm nghèo
Nhìn chung, những năm qua, toàn tỉnh Vĩnh Long đã vận dụng linh hoạt nhiều nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo từng bước khắc phục khó khăn, vươn lên thoát nghèo; đồng thời hạn chế việc tái nghèo và phát sinh hộ nghèo mới. Qua đó, tỷ lệ hộ nghèo từng năm giảm đáng kể, bình quân là 1,56%; năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo của toàn tỉnh là 10,23%, cuối năm 2015 còn 2,54%.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu mà Vĩnh Long đã đạt được như đã nêu trên về thực hiện mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa - xã hội thì những hạn chế mà phát triển kinh tế đem lại cũng như những bất cập nảy sinh trong quá trình thực hiện mối quan hệ trên ở một góc độ nào đó đã trở thành lực cản đối với sự phát tiển của tỉnh Vĩnh Long. Có thể kể đến một vài hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa - xã hội ở Vĩnh Long như sau:
Một là, chất lượng phát triển kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp
Năng lực cạnh tranh của Vĩnh Long còn thấp so với các tỉnh trong khu vực và trên phạm vi cả nước. Cụ thể chỉ số năng lực cạnh tranh của vĩnh Long so với 63 tỉnh thành cả nước: năm 2010 (9/63), 2011 (54/63), 2012 (5/63), 2013 (16/63), 2014 (21/63); Vĩnh Long xếp hạng thứ 8 so với 13 tỉnh thành trong khu vực.
Thứ hai, công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm còn gặp nhiều khó khăn
Nhìn chung, cơ sở vật chất của các trường dạy nghề và các trung tâm dạy nghề chưa được đầu tư xây dựng kịp thời từ đó cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và số lượng đào tạo nghề. Một số nơi còn chưa quan tâm đến đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội, đều này đã dẫn đến tình trạng thất nghiệp trong một bộ phận rất lớn sinh viên, học sinh; tỷ lệ thất nghiệp của người lao động trong độ tuổi còn khá cao (thành thị 4%).
Thứ ba, công tác chăm lo phúc lợi xã hội cho người dân còn nhiều bất cập
Về giáo dục, tình trạng học sinh nghèo ở vùng sâu bỏ học vẫn còn xảy ra. Về y tế, công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân được quan tâm nhưng chất lượng phục vụ ở một số nơi còn chưa được tốt; một số cơ sở y tế việc nâng cấp trang thiết bị còn chậm; sự phân bổ chưa đồng giữa các vùng số bác sĩ và dược sĩ đại học,…
Thứ tư, công tác xóa đói, giảm nghèo chưa thật sự bền vững
Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo trong những năm qua có giảm đáng kể và tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh hiện còn khoảng 2,54% nhưng nguy cơ tái nghèo là rất lớn, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Điều đáng quan tâm, phần lớn hộ nghèo dù đã vượt nghèo nhưng hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống hàng ngày.
Như vậy, với những thành tựu nhất định mà Vĩnh Long đã đạt được cùng những hạn chế, yếu kém nảy sinh trong quá trình thực hiện mối quan hệ trên; trong thời gian tới, với sự quan tâm, giúp đỡ của các Ban, Bộ ngành Trung ương, đặc biệt là sự đoàn kết thống nhất, sự nỗ lực của toàn Đảng bộ, toàn dân, tỉnh Vĩnh Long sẽ có những chính sách, giải pháp đúng đắn và kịp thời để khắc phục những khó khăn, hạn chế và đồng thời tiếp tục phát huy các thành tựu mà Vĩnh Long đạt được để có thể đảm bảo giải quyết một cách hoài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa - xã hội.


URL của bản tin này::http://tctph.gov.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=277

© Trường Chính Trị Phạm Hùng contact: cvtrung@tctph.gov.vn